Bông vải là một trong các loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế hàng đầu của thế giới. Ngoài sản phẩm chính là xơ bông cung cấp nguyên liệu cho dệt may, hạt bông từ lâu đã được khai thác sử dụng làm thực phẩm, làm thức ăn cho người và gia súc. Hạt bông là một trong các loại hạt có hàm lượng dinh dưỡng cao, chứa từ 16 – 24% protein và từ 13 – 24% dầu trong tổng khối lượng nhân hạt (ICAC, 2000). Tuy nhiên, hạt của các giống bông trồng trọt phổ biến trên thế giới hiện nay đều chứa một hàm lượng gossypol khá lớn, gây độc cho người và động vật khi ăn các sản phẩm từ hạt bông. Trong hai loài bông trồng trọt phổ biến, loài bông Hải đảo có hàm lượng gossypol từ 1,6 – 2,5% (được tính bằng phần trăm khối lượng vật chất khô so với khối lượng nhân hạt), cao hơn từ 1,5 đến 1,7 lần so với loài bông Luồi (từ 0,97 – 1,57%) khi chúng được trồng trong cùng một điều kiện, (Boatner và cộng sự, 1949). Trong khi đó, theo tiêu chuẩn của FAO và WHO thì hàm lượng gossypol (kể cả các chất dẫn xuất của nó) trong dầu và các sản phẩm từ hạt bông phải thấp hơn mức tối đa cho phép (0,04%) thì mới đạt tiêu chuẩn sử dụng làm thực phẩm.
Gossypol trong hạt bông gây nhiều trở ngại đối với công nghiệp chế biến dầu từ hạt bông vì nó thường ở dạng phức hợp với một số chất trao đổi trung gian làm biến đổi màu sắc, do đó càng gia tăng độ độc đối với gia súc không nhai lại khi chúng ăn bã dầu hạt bông. Chính vì vậy, nghiên cứu kỹ thuật công nghệ chế biến để loại bỏ gossypol trong các sản phẩm từ hạt bông là một công việc rất tốn kém. Từ những năm 1950, các nhà khoa học trên thế giới đã nỗ lực nghiên cứu tạo giống không có gossypol. Rhyne, Smith và Miller (1959) đã tạo ra một số dòng bông luồi có rất ít gossypol trong thân và lá, tuy nhiên chúng vẫn có tuyến gossypol trong hạt. Sau đó các tác giả khác như McMichaels (1954, 1960), Lee (1962, 1965), Lee và cộng sự (1968), Lee (1973)… đã nghiên cứu sâu về đặc điểm di truyền tính trạng gossypol trên cây bông, kết quả đã tạo được các dòng bông luồi và bông Hải đảo hoàn toàn không có gossypol, qua đó các tác giả đã khẳng định được kiểu gen di truyền tính trạng không gossypol trên cây bông.
Nhiều tài liệu nghiên cứu về tính kháng sâu hại đã khẳng định gossypol có tác dụng làm tăng khả năng kháng một số loại sâu hại trên cây bông (Bell và cộng sự, 1975, 1978; Bell,1986; Matthews, 1989; Summy và King, 1992; Nguyễn Hữu Bình, 1990). Do vậy, trong những năm gần đây các nhà chọn giống trên thế giới đã nỗ lực nghiên cứu chuyển các gen quy định tính trạng không có gossypol trong hạt nhưng có gossypol trên thân lá từ các loài bông dại nhị bội như G. Sturtia, G. Hibiscoidea, G. bickii…vào các loài bông trồng trọt, điển hình là các nghiên cứu của Dilday (1986), Altman và ctv. (1987), Rooney và ctv. (1991), Zhu và Li (1993), Vroh và cộng sự (1999), Zhu và cộng sự (2005).
Việc nỗ lực chọn tạo giống bông không có gossypol trong hạt nhưng có gossypol trên thân lá bằng cách lai xa với các loài hoang dại luôn gặp phải những trở ngại lớn về mặt di truyền, do đó hầu hết các công trình này chỉ mới dừng lại ở quy mô phòng thí nghiệm và nhà kính. Mặc dù đã có những thành công nhất định trong việc tạo ra các dòng bông không có gossypol trong hạt nhưng có gossypol trên thân lá, nhưng các dòng bông mới này vẫn đang trong quá trình chọn lọc để chúng ổn định về mặt di truyền, hiện chưa có các dòng đưa ra cho thử nghiệm. Tuy vậy, các nhà nghiên cứu trên thế giới đều nhận định đây là một hướng đi có nhiều triển vọng trong chọn tạo giống bông đa mục đích nhằm gia tăng giá trị sử dụng của giống.